HIẾN CHẾ TÍN LÝ VỀ MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA (Phần II)

Dù Công đồng Vatican II đã bế mạc hơn 40 năm, Hiến chế Tin lý vế Mạc Khải Lời Thiên Chúa vẫn là bản văn quan trọng đã được Huấn quyền ban hành nhằm hướng dẫn việc học hỏi Kinh Thánh. Bản văn đã được Giáo Hoàng Học Viện Piô X dịch và xuất bản năm 1972. Sau năm 1975, một nhóm linh mục đã duyệt lại Bản dịch ấy. Vào năm 2005, Ủy Ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt-nam đã ra bản dịch chính thức sau đây. Riêng Lời giới thiệu và các chú thích nhằm minh họa bản văn, chúng tôi xin lấy từ Bản dịch GHHV Piô X. 


 
KHOÁ VIII
ngày 18 tháng 11 năm 1965  

HIẾN CHẾ TÍN LÝ
VỀ MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA
Dei Verbum

                                       CHƯƠNG IV

CỰU ƯỚC

14. Lịch sử cứu độ trong các sách Cựu Ước
   
Thiên Chúa chí ái, vì ân cần dự định và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại, nên do một kế hoạch đặc biệt, đã tuyển chọn cho mình một dân tộc để trao gửi các lời hứa. Thật vậy, sau khi đã ký kết giao ước với Abraham (x. St 15,18) và với dân Israel qua trung gian Môsê (x. Xh 24,8), Ngài đã dùng lời nói và hành động mà mạc khải chính mình là Thiên Chúa độc nhất, chân thật và hằng sống cho dân Ngài đã thủ đắc riêng, nhờ đó Israel nghiệm thấy đâu là những đường lối Thiên Chúa đối xử với loài người, và nhờ chính Ngài phán dạy qua miệng các ngôn sứ, họ ngày càng thấu hiểu các đường lối ấy cách sâu xa rõ ràng hơn, và đem phổ biến rộng rãi hơn nơi các dân tộc (x. Tv 21,28-29; 95,1-3; Is 2,1-4; Gr 3,17). Nhiệm cuôc cứu độ mà các thánh sử đã tiên báo, thuật lại và giải thích, còn tồn tại trong các sách Cựu Ước với tính cách là lời thật sự của Thiên Chúa. Vì vậy, các sách đã được Thiên Chúa linh hứng này vẫn giữ một giá trị trường cửu: “Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Thánh Kinh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy” (Rm 15,4). 34*

----------------------------------

34*– Số này bàn về lịch sử cứu độ trong Cựu Ước,  xét như là cuốn sách và kế hoạch cứu dộ. Thiên Chúa đã phán qua các biến cố trong lịch sử dân Do-thái và qua các Ngôn sứ (nghĩa rộng): đã có Lời Chúa trước khi có sách, nhưng bây giờ Lời Chúa được tồn trữ trong sách. Nên lưu ý tới ý hướng của việc tuyển chọn dân Do-thái: phổ quát tính của ơn cứu độ. Cựu Ước gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn các Tổ Phụ đánh dấu bằng lời hứa, giai đoạn Môsê thiết lập dân Chúa trong Giao Ước, giai đoạn Ngôn sứ trong đó Mạc khải được khai triển.

15. Tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các ki-tô hữu
   
Nhiệm cuộc Cựu Ước được bố trí với mục đích chính yếu là để chuẩn bị và loan báo theo cách ngôn sứ (x. Lc 24,44; Ga 5,39; 1 Pr 1,10) và để chỉ ra bằng những hình bóng khác nhau (1 Cr 10,11) ngày quang lâm của Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài và của Vương Quốc của Đấng Mêsia. Tùy theo hoàn cảnh nhân loại trước thời Chúa Kitô thiết lập công cuộc cứu độ, các sách Cựu Ước bày tỏ cho mọi người biết Thiên Chúa và con người ta, cùng những cách thế mà Thiên Chúa công bình và nhân từ đối xử với loài người. Tuy có nhiều bất toàn và tạm bợ, các sách ấy chứng tỏ khoa sư phạm đích thật của Thiên Chúa[29]. Do đó, các ki-tô hữu phải thành kính đón nhận các sách này: chúng diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài, một khoa khôn ngoan hữu ích về đời sống con người, và những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu; sau cùng trong đó ẩn chứa mầu nhiệm ơn cứu độ chúng ta. 35*

---------------------------------

35*– Số này bàn về việc ki-tô hữu đọc Cựu Ước. Ba ý tưởng: tương quan giữa Cựu và Tân Ước, bản tính các sách Cựu Ước, giá trị của Cựu Ước đối với các ki-tô hữu. Chúa Kitô là ý nghĩa của Cựu Ước: của cả các biến cố cũng như các sách. Tất cả những gì xảy ra trước Chúa Kitô đều có mục đích chuẩn bị. Việc tuyển chọn dân Do-thái, lịch sử, văn hoá của dân này v.v… đều chuẩn bị chính con người, ngôn ngữ và tôn giáo của Chúa Kitô v.v… Bản văn nói đến những “khuôn mẫu”: không nên hiểu theo nghĩa kỹ thuật, nhưng theo ý là những biến cố quá khứ trở thành những “mẫu”, những “hình” của một biến cố tương lai nhờ đó những biến cố kia được trọn nghĩa. Việc liệt kê giá trị của Cựu Ước hơi lộn xộn. Bản văn nhắc đến tính cách tạm thời của Cựu Ước để đề phòng chống lại nền luân lý tiền Kitô giáo của dân Do-thái. Người ta nói đến “kho tàng kinh nguyện” để bênh vực các thánh vịnh, chống lại những người muốn loại bỏ thánh vịnh ra khỏi phụng vụ.

16. Tính duy nhất giữa Cựu và Tân Ước
   
Vậy Thiên Chúa, Đấng linh hứng và tác giả các sách Cựu và Tân Ước, đã khôn ngoan xếp đặt cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước và Cựu Ước được tỏ hiện trong Tân Ước[30]. Thật vậy, tuy Chúa Kitô đã thiết lập Giao Ước mới trong máu Ngài (x. Lc 22,20; 1 Cr 11,25), nhưng các sách Cựu Ước, đã được thâu dụng trọn vẹn trong lời rao giảng Phúc Âm[31], thì đạt được và giãi bày đầy đủ ý nghĩa của mình trong Tân Ước (x. Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2 Cr 3,14-16), và ngược lại, làm sáng tỏ và giải nghĩa Tân Ước. 36*

---------------

36*– Sự duy nhất của Cựu Ước và Tân Ước. Đoạn này bàn cách lẫn lộn về các sách vừa Tân Ước vừa Cựu Ước. Tân Ước đã thu gồm toàn thể Cựu Ước, ngoại trừ tính cách bất toàn và tạm thời. Như thế nghĩa là các sách Cựu Ước được sát nhập vào lời rao giảng Phúc Âm như thành phần của một Mạc khải duy nhất. Do đó, chúng hiện ở trong một ngữ cảnh mới, chúng đã được biến đổi vì đã đạt được ý nghĩa tối hậu. Nên lưu ý rằng không những Tân Ước soi sáng Cựu Ước, mà Cựu Ước còn giúp giải nghĩa Tân Ước, chẳng hạn phải hiểu Isaia Đệ Nhị dưới ánh sáng của thánh Phaolô và ngược lại.


CHƯƠNG V

TÂN ƯỚC  37*

17. Sự trổi vượt của Tân Ước
   
Trong các sách Tân Ước, Lời Thiên Chúa là quyền năng của Thiên Chúa để cứu rỗi mọi tín hữu (x. Rm 1,16), được trình bày và biểu dương sức mạnh cách trổi vượt. Thật vậy, khi đến thời viên mãn (x. Gl 4,4), Ngôi Lời đã thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta, đầy tràn ân sủng và chân lý (x. Ga 1,14). Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian; bằng việc làm và lời nói, Ngài đã biểu lộ Cha Ngài và chính Ngài ra; và khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, khi cử Thánh Thần đến, Ngài đã hoàn tất công việc của Ngài. Chính Ngài, là Đấng độc nhất có những lời ban sự sống đời đời, khi được nâng lên cao khỏi mặt đất (x. Ga 12,32, bản hy-lạp), Ngài đã kéo mọi người đến với mình (x. Ga 6,68). Nhưng mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ khác biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các thánh Tông đồ và các Ngôn sứ của Ngài (x. Ep 3,4-6, bản hy-lạp) để họ rao giảng Phúc Âm, khơi động lòng tin vào Đức Giêsu, là Đấng Kitô và là Đức Chúa, và quy tụ Giáo Hội. Về những việc này, các sách Tân Ước vẫn còn nêu ra một bằng chứng trường tồn và thần linh. 38*

----------------------

37*– Trong Lược đồ thứ nhất, chương này hầu như có tính cách hoàn toàn biện giáo và tiêu cực. Sau đó, người ta soạn thảo lại theo một tinh thần cởi mở hơn. Nhưng thật sự, chương này hầu như chỉ bàn về các Phúc Âm.

38*– Bản văn này phát xuất từ bản thảo thứ ba. Câu thứ nhất được coi như luận đề mà cả số này trình bày. Theo tư tưởng của chương I, Tân Ước là chính Chúa Giêsu và công trình của Ngài. Trong khi hoàn tất Cựu Ước, Tân Ước mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như Người Cha. Bản văn không nói Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội (Giáo Hội xuất hiện vào thời các Tông đồ). Như thế người ta chấp nhận sự phân biệt giữa “Nước Chúa” và Giáo Hội (x. GH 5, 8). Hoạt động của Chúa Giêsu được đặt trong lịch sử và ngày nay vẫn còn thực hiện. Bản văn dùng động từ ở thì hiện tại: Ngài “kéo” thay vì “đã kéo” của Lược đồ trước. Tiếng “mầu nhiệm” chỉ Chúa Kitô và công trình của Ngài chứ không đúng y như nghĩa của Thánh Phaolô. Lưu ý mục đích truyền giáo của Mạc khải.

18. Các sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông đồ
   
Không ai không biết rằng trong tất cả các Sách Thánh, kể cả các sách Tân Ước, các sách Phúc Âm xứng đáng có địa vị trổi vượt, vì là chứng tích chính yếu về đời sống và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Chuộc chúng ta.
   
   
Trong mọi thời và ở mọi nơi, Giáo Hội đã và vẫn quả quyết rằng bốn sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông đồ 39*. Thật vậy, những điều mà theo lệnh truyền của Chúa Kitô, các Tông đồ rao giảng, sau này nhờ Chúa Thánh Thần linh hứng, chính các ngài và những người sống bên các ngài đã lưu truyền cho chúng ta bằng bản văn làm nền tảng đức tin: đó là Phúc Âm dưới bốn hình thức,  theo Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan[32].

----------------------

39*– Giá trị chứng tích của các sách Phúc Âm là thiết yếu đối với Giáo Hội. Nhưng trước kia cách thế bênh vực giá trị đó không được thích hợp cho lắm khi đặt nền tảng trên hai lý do: các thánh sử trung thực và thấu đáo vấn đề. Điều này buộc phải chứng minh rằng các ngài là Tông đồ hay môn đệ các Tông đồ; nhưng theo lịch sử, sự kiện đó không chắc chắn. Vì thế, bản văn bỏ qua vấn đề này. Cùng với Thánh Truyền, Công đồng xác nhận rằng các Phúc Âm “bắt nguồn từ các Tông đồ” và truyền lại cho chúng ta dưới hình thức “theo Mátthêu...” v.v... Nguồn gốc này là lời rao giảng hay Phúc Âm truyền khẩu. Mối liên lạc giữa lời rao giảng và Thánh Kinh được Chúa Thánh Thần bảo đảm; nguồn mạch của Phúc Âm được rao giảng là chính Chúa Kitô.

19. Tính lịch sử của các sách Phúc Âm 40*
   
Mẹ thánh Giáo Hội đã và vẫn còn bền bỉ quả quyết rằng bốn sách Phúc Âm nói trên, mà Giáo Hội không ngần ngại khẳng định lịch sử tính, trung thành lưu truyền những gì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, khi sống giữa loài người, thật sự đã làm và  đã dạy nhằm phần rỗi đời đời của họ, cho tới ngày Ngài được đưa lên trời (x. Cv 1,1-2). Thật vậy, sau khi Chúa lên trời, các Tông đồ đã truyền lại cho những người nghe những điều Ngài đã nói đã làm với sự thông hiểu đầy đủ hơn[33] mà chính các ngài có nhờ học được từ các biến cố vinh hiển của Chúa Kitô và nhờ ánh sáng Thánh Thần Chân Lý[34] dạy dỗ. Vậy các thánh sử đã viết bốn Phúc Âm: các ngài chọn một số trong nhiều điều đã được truyền lại bằng miệng hay đã được chép ra rồi, tóm tắt hoặc giải thích một số điều tuỳ theo tình trạng của các Giáo Hội, sau cùng các ngài vẫn giữ hình thức lời giảng, mà bao giờ cũng nhằm truyền đạt cho chúng ta những điều xác thực và chân thành về Chúa Giêsu[35]. Quả thế, dựa trên ký ức hay kỷ niệm riêng, hoặc dựa trên lời chứng của những người “từ đầu đã chứng kiến và phục vụ Lời Chúa”, các ngài đã viết ra với chủ ý giúp chúng ta am tường tính “xác thực” của những điều chúng ta đã được dạy dỗ (x. Lc 1,2-4).

-------------------

40* – Lịch sử tính của các sách Phúc Âm là điểm quan trọng của Hiến chế. Lược đồ thứ nhất nặng tính cách bút chiến và kết án các lầm lạc  của những người nghi ngờ những câu chuyện thời thơ ấu và những cuộc hiện ra v.v… Thái độ này nghịch với tinh thần của Đức Gioan XXIII (x. AAS 54 (1962) 729) và giả thuyết một ý niệm về chân lý lịch sử nặng tính cách khoa học hơn là Thánh Kinh, như có thể tìm thấy nơi những văn kiện chính thức, ví dụ: “các bản văn phải tương xứng với những sự kiện đã xảy ra trong thực tế” (Tđ. Paraclitus, EB số 457). Nhưng khoa chú giải đã cũng minh chứng việc soạn thảo Phúc Âm rất phức tạp: phải lưu tâm đến những truyền thống khác nhau, những thích ứng trong khi rao giảng, vai trò của các cộng đoàn sơ khai v.v… Nhiều Nghị Phụ sợ rằng lịch sử tính sẽ lu mờ nếu lướt qua phương pháp “văn hình sử”. Các cuộc bàn cãi sôi nổi, kéo dài, và các Nghị Phụ đã xin Đức Giáo Hoàng can thiệp để tiếng “lịch sử” được giữ lại trong văn bản. Trong khi đó, để giúp giải quyết các vấn đề, Uỷ ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh đã phát hành một Huấn Thị về Phúc Âm (14-5-1964). Sau cùng bản văn được chấp thuận đã loại bỏ mọi nghi ngờ về lịch sử tính của Phúc Âm; đó là một chân lý mà Giáo Hội đã quả quyết bằng đức tin và lý trí (đã và đang quả quyết). Nhưng “lịch sử” trong Phúc Âm lại là một loại đặc biệt, phải xác định sau khi nghiên cứu văn loại của từng đoạn. Phúc Âm truyền đạt cho chúng ta “những điều chân thật và trung thực” về Chúa Giêsu; như thế nghĩa là: những điều chính thực không thay đổi; phải hiểu tiếng “điều chân thật” theo như đã nói ở số 11. Tóm lại, Phúc Âm không phải là một bản văn phúc trình về những biến cố đã qua, nhưng là một lời truyền bá những sự kiện quan hệ cho ơn cứu độ.

20. Các sách khác trong Tân Ước
   
Ngoài bốn quyển Phúc Âm, thư quy Tân Ước còn gồm các thư thánh Phaolô và những bản văn khác thời các Tông đồ, đã được viết dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Do ý định khôn ngoan của Thiên Chúa, các sách ấy xác nhận những gì liên hệ đến Chúa Kitô, trình bày ngày một rõ ràng hơn giáo huấn đích thật của Ngài, rao giảng sức mạnh cứu độ của công trình thần linh của Chúa Kitô, và tường thuật lại những bước đầu và sự bành trướng kỳ diệu cùng tiên báo sự hoàn tất vinh hiển của Giáo Hội. 41*
   
   
Thật thế, Chúa Giêsu đã ở bên các Tông đồ như Ngài đã hứa (x. Mt 28,20) và đã cử Thánh Thần Bảo Trợ đến để dẫn dắt các ngài đến chân lý vẹn toàn (x. Ga 16,13).

--------------------

41*– Số này không bị thay đổi mấy. Nó xác quyết rằng, ngoài Phúc Âm, Tân Ước còn có nhiều bản văn khác, nhưng không nêu ra danh sách. Theo Công đồng, những bản văn này có nội dung:

    a) thần học: dùng những lý chứng để xác quyết sứ mệnh của Chúa Kitô. Số này chấp nhận sự tiến triển nội tại của Tân Ước, đặc biệt trong Kitô học và Giáo Hội học.

    b) giảng thuyết: lời rao giảng về Chúa Kitô.

    c) lịch sử: Công vụ Tông đồ thuật lại những “bước đầu” của Giáo Hội; người ta đã dùng chữ “tổ chức” ở trong bản thảo trước.

    d) tiên tri: loan báo ngày kết thúc (Khải huyền).

 
 CHƯƠNG VI

THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI 42*

21. Tầm quan trọng của Thánh Kinh đối với Giáo Hội 43*
   
Giáo Hội đã luôn tôn kính Thánh Kinh như đã tôn kính chính Thánh Thể Chúa: nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu. Giáo Hội đã và vẫn luôn luôn coi Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền như là quy luật tối cao  cho đức tin của mình, bởi vì Thánh Kinh, được Thiên Chúa linh ứng và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ. Vì vậy, toàn thể công việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính đạo Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Quả thật, trong các sách thánh, Cha trên trời âu yếm đến gặp con cái và trò chuyện với họ. Trong Lời Thiên Chúa, có năng lực lớn lao có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Giáo Hội, còn đối với con cái Giáo Hội thì thành sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống thiêng liêng. Bởi thế, lời nói sau đây hoan toàn đúng về Thánh Kinh: “Thật vậy, lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt” (Dt 4,12), “có sức xây dựng và ban phần gia nghiệp cho mọi người đã được thánh hoá” (Cv 20,32; x. 1 Th 2,13).

--------------------------

42*– Chương này phát xuất từ bản thảo thứ hai. Sau đó trong bản thảo thứ ba, người ta xác nhận thêm những yếu tố của Lược đồ về Lời Thiên Chúa do Văn phòng Hiệp nhất soạn thảo. Tựa đề đã thay đổi nhiều lần. Trước tiên tựa đề là: Về Thánh Kinh trong Giáo Hội; như thế có vẻ quá thần học, nên đã được đổi thành về Việc dùng Thánh Kinh trong Giáo Hội; nhưng tựa đề này lại có vẻ quá tầm thường. Sau cùng người ta chấp nhận tựa đề hiện tại; tuy nhiên không phải là không gặp chống đối, vì nhiều người muốn dùng tiếng “Lời Chúa” để bao gồm cả Thánh Truyền nữa.

Chương này có tính cách mục vụ. Thật vậy, “đời sống Giáo Hội” bao gồm tất cả mọi hoạt động hướng nội cũng như hướng ngoại, như thế gồm cả việc truyền giáo.

43*– Trong những bản thảo trước, số này mang tựa đề: “Nỗi bận tâm của Giáo Hội đối với Thánh Kinh”. Nhưng tựa đề này lại nghiêng về khía cạnh tự vệ. Sau đó các Nghị Phụ chấp nhận tựa đề hiện tại: “Giáo Hội tôn trọng Thánh Kinh”. Người ta chỉ có thể nói rõ hơn khi so sánh với Thân Thế Chúa; so sánh này gặp nhiều chống đối vì nhiều Nghị Phụ nghĩ rằng những khuynh hướng tân thời muốn giảm thiểu sự hiện diện Chúa trong phép Thánh Thể và hình như bản văn này khuyến khích. Nhưng Uỷ Ban vẫn duy trì bản văn vì sự so sánh này có tính cách cổ truyền và hơn nữa sự hợp nhất giữa Lời Chúa và bí tích lại rất quan trọng trong đời sống Giáo Hội (Phụng vụ). Tầm quan trọng của Thánh Kinh được diễn tả trong câu “cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh … là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin”. Đây là một quy luật khách quan, vì được linh hứng (Thiên Chúa nói với chúng ta qua Thánh Kinh); thứ đến nó là quy luật bất biến, vì Thiên Chúa không thay đổi và – theo cách nói nhân loại – điều gì đã được viết thì đẽ được viết rồi. Bởi thế hậu quả là đời sống Giáo Hội luôn được nuôi dưỡng bởi cùng một nguồn mạch duy nhất, và điều đó được bảo đảm sự liên tục trong lịch sử cũng như sự bình đẳng trong các nền văn hoá khác nhau.

22. Cần có những bản văn và những bản dịch khác nhau 44* 
   
Lối vào vào Thánh Kinh cần phải được rộng mở cho các ki-tô hữu. Chính vì thế, ngay từ buổi đầu, Giáo Hội đã nhận làm của mình bản dịch Cựu Ước hy-lạp cổ kính, được gọi là bản Bảy Mươi. Giáo Hội luôn quý trọng các bản dịch Đông phương khác và các bản dịch la-tinh, nhất là bản thường gọi là bản Phổ thông. Nhưng bởi vì Lời Thiên Chúa phải luôn tiện dụng cho mọi thời đại, Giáo Hội như một người mẹ ân cần lo liệu sao cho có các bản dịch thích hợp và đúng nghĩa sang các thứ tiếng, nhất là dịch từ nguyên bản các Sách Thánh. Nếu hoàn cảnh thuận tiện và được giáo quyền chấp thuận, các bản dịch đó được thực hiện với sự cộng tác của các anh em ly khai, thì mọi ki-tô hữu đều có thể dùng được.

-----------------------

44*– Việc dịch Thánh Kinh ra các sinh ngữ là một nhu cầu truyền giáo (x. TG 22; MV 44), là một đòi hỏi của công giáo tính nơi Giáo Hội (x. GH 13) và là một đòi hỏi của việc hiệp nhất (x. GH 15, HN 14-17, 19-23). Mỗi Giáo Hội dịch Thánh Kinh ra tiếng bản xứ là làm giàu thêm cho Giáo Hội phổ quát, vì tất cả các bản dịch giả thiết một sự thấu hiểu mới về Mạc khải.

23. Nhiệm vụ tông đồ của các nhà thần học công giáo 45* 
   
Hiền Thê của Ngôi Lời nhập thể, tức Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày một sâu xa hơn, để không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình. Do đó, Giáo Hội có lý mà khuyến khích cả việc học hỏi các Thánh Giáo Phụ Đông phương cũng như Tây phương và các loại Phụng vụ thánh. Còn  các nhà chú giải công giáo và những nhà nghiên cứu thần học phải chuyên hiệp lực, cố gắng dùng những phương thế thích hợp mà khảo sát và trình bày Thánh Kinh, dưới sự trông nom của Huấn Quyền thánh; công việc này phải được thực hiện thế nào để có đa số tối đa những người phục vụ Lời Chúa có thể cung cấp hữu hiệu cho dân Thiên Chúa lương thực Thánh Kinh có sức soi sáng tâm trí, củng cố ý chí và thiêu đốt lòng người yêu mến Thiên Chúa[36]. Thánh Công đồng khuyên nhủ các con cái Giáo Hội chuyên nghiên cứu Thánh Kinh, hãy can đảm tiếp tục đến cùng công việc đã khởi sự tốt đẹp, với năng lực ngày ngày đổi mới, với trọn niềm hăng say, phù hợp với cảm thức của Giáo Hội[37].

--------------------

45*– Số này nhấn mạnh nhiệm vụ tông đồ của các tiến sĩ Giáo Hội và khuyến khích những nhà chú giải và thần học cộng tác với nhau. Nhìn nhận tầm quan trọng của khoa học để đào sâu Lời Chúa, mặc dầu Giáo Hội có quyền quyết định tối hậu những nghi ngờ (Huấn Quyền) nhưng đồng thời lại đề phòng thứ khoa học (chú giải và thần học) quá cằn cỗi về phương diện mục vụ. 

24. Thánh Kinh và Thần học 46*
   
Khoa Thần học dựa trên lời Thiên Chúa đã được viết ra, cùng với Thánh Truyền, như dựa trên một nền tảng trường tồn; nơi Thánh Kinh, Thần học được củng cố hết sức vững chắc và luôn trẻ trung, nhờ nghiên cứu dưới ánh sáng đức tin tất cả chân lý tiềm ẩn trong mầu nhiệm Chúa Kitô. Thánh Kinh chứa đựng lời Thiên Chúa và vì được linh hứng nên thật sự là Lời Thiên Chúa; do đó, việc nghiên cứu Thánh Kinh phải là như linh hồn của khoa Thần học[38]. Nhờ chính lời Thánh Kinh này, thừa tác vụ lời Chúa, gồm có việc giảng thuyết của các vị chủ chăn, việc dạy giáo lý và toàn thể giáo huấn Kitô giáo, trong đó bài diễn giảng trong phụng vụ phải chiếm ưu thế,  được nuôi dưỡng lành mạnh và tăng cường sinh lực thánh thiện.

-----------------------

46*– Ở đây  người ta bàn về vai trò Thánh Kinh trong Thần học. Vậy Thánh Kinh là nền tảng: là điểm khởi phát và là điểm quy chiếu. Thánh Kinh làm cho nền Thần học trẻ lại vì đem lại những đề mục và những viễn tượng mới. Thánh Kinh là “linh hồn của Thần học” (x. ĐT 16), là nguyên lý sự sống, là nguồn nghị lực của Thần học. Nhưng Thánh Kinh không phải là tất cả, vì Thần học cũng phải quan tâm đến Thánh Truyền, đến những suy tư của người khác, những trực giác của tín hữu v.v… và phải luôn luôn tạo nên những tổng hợp mới để hiểu thêm Thánh Kinh. Cũng vậy, tín điều phải quy chiếu về Thánh Kinh để thấu hiểu và đào sâu trong ánh sáng Thánh Kinh.

25. Khuyên nhủ đọc Thánh Kinh 47* 
   
Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những ai phục vụ Lời Chúa cách chính đáng, với tư cách là phó tế hoặc giảng viên giáo lý, phải gắn bó với Thánh Kinh nhờ chuyên cần đọc Sách Thánh và học hỏi kỹ càng; nếu không, sẽ có người trong họ thành “kẻ rao giảng Lời Thiên Chúa bên ngoài uổng công, bởi vì họ không lắng nghe Lời đó trong lòng”[39], trong khi họ phải thông truyền, nhất là trong phụng vụ thánh, những kho báu vô tận của Lời Thiên Chúa cho các tín hữu đã được giao phó cho họ. Cũng vậy, thánh Công đồng nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi ki-tô hữu, nhất là các tu sĩ, học được “sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô” (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. “Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”[40]. Vậy ước gì họ sẵn lòng đi đến với chính bản văn Thánh Kinh, hoặc nhờ phụng vụ thánh đầy dẫy Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ việc sốt sắng đọc Thánh Kinh hoặc nhờ những lớp học hỏi thích hợp và những phương tiện khác ngày nay đang phổ biến khắp nơi cách đáng mừng, với sự ưng thuận và chăm lo của các vị chủ chăn trong Giáo Hội. Nhưng họ nên nhớ rằng kinh nguyện phải có kèm theo việc đọc Thánh Kinh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì “chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh”[41].

   
Các giám mục, là những người “gìn giữ giáo lý tông truyền”[42], có phận sự dạy cách thích hợp cho các tín hữu đã được uỷ thác cho các ngài biết sử dụng cho đúng các Sách Thánh, nhất là Tân Ước và trước hết là các sách Phúc Âm, nhờ các bản dịch Sách Thánh; các bản dịch này phải có kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để con cái Giáo Hội có thể gặp gỡ Thánh Kinh cách bảo đảm và ích lợi, cũng như được thấm nhuần tinh thần Thánh Kinh.

   
Hơn nữa, cũng nên xuất bản Thánh Kinh với các ghi chú thích hợp, tiện dụng  cho cả những người ngoài Kitô giáo và thích nghi với hoàn cảnh của họ. Các vị chăn  dắt linh hồn cũng như các ki-tô hữu, dù trong bậc sống nào, cũng nên khôn ngoan phổ biến các bản ấy.

-------------------------

47* – Lần đầu tiên trong lịch sử một Công đồng kêu gọi đọc Thánh Kinh. Những người phục vụ Lời Chúa: linh mục, phó tế, các người dạy giáo lý… mang  một trách vụ lớn hơn. Tuy nhiên vài Nghị Phụ bối rối và coi lời khuyến khích tổng quát đọc Thánh Kinh là một mối nguy hiểm. Phải đọc “theo tinh thần của Giáo Hội”, vì vậy người ta nhấn mạnh đến kinh nguyện như là một câu đáp lại lời Thiên Chúa Đấng nói trong Thánh Kinh.

Lãnh tụ của phong trào này là các giám mục, các ngài có bổn phận kiểm soát và khuyến khích. Sau cùng, Thánh Kinh được ban cho Giáo Hội để Giáo Hội mang đến cho mọi người, vậy phải khuyến khích các đợt xuất bản dành cho người ngoài Kitô giáo. Đó là một sáng kiến truyền giáo tốt đẹp.

 26. Kết luận 48*
   
Vì thế, ước gì nhờ việc đọc và học hỏi Sách Thánh, “Lời Thiên Chúa được phổ biến  mau chóng và được tôn vinh” (2 Tx 3,1), và kho tàng mạc khải, đã được uỷ thác cho Giáo Hội, ngày càng lấp đầy tâm hồn con người. Cũng như đời sống Giáo Hội được tăng trưởng nhờ năng tiếp xúc với mầu nhiệm Thánh Thể, cũng thế ta được phép hy vọng rằng đời sống thiêng liêng nhận được một sự thúc đẩy mới nhờ việc tăng thêm lòng sùng kính Lời Thiên Chúa, là Lời “tồn tại muôn đời” (Is 40,8; x. 1 Pr 1,23-25).

   
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Hiến chế Tín lý này đều được các Nghị Phụ Thánh Công đồng chấp thuận. Và dùng quyền tông đồ Chúa Kitô trao ban, hợp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, chúng tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công đồng quyết nghị, chúng tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.

Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 18 tháng 11 năm 1965

Tôi, PHAOLÔ Giám mục Giáo Hội Công giáo

Tiếp theo là các chữ ký của các Nghị Phụ

---------------------

48*– Số này là lời kết luận của chương VI, chứ không phải của tất cả Hiến chế. Tinh thần của đoạn này cũng là tinh thần truyền giáo sâu xa. Nên lưu ý việc chuyển tiếp từ việc đọc sách đến Lời Chúa trong câu thứ nhất, vì Thánh Kinh chứa đựng “kho tàng mạc khải” của Thiên Chúa cho Giáo Hội, và vì Giáo Hội sẽ luôn sống bằng Lời Chúa như chính Ngôi Lời.

TRÍCH VĂN KIỆN THÁNH CỘNG ĐỒNG CHUNG VATICAN II

 THÔNG TRI

    Do vị Tổng Thư ký của Thánh Công đồng trong phiên họp khoáng đại lần thứ 171 ngày 15-11-1965.

   
Có người thắc mắc về phẩm tính thần học của giáo thuyết được trình bày trong lược đồ của Hiến chế Tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa và được đem ra đầu phiếu.

   
Uỷ ban về Giáo lý Đức tin và phong hoá trả lời thắc mắc trên theo Tuyên ngôn ngày 6 tháng 3 năm 1964:

   
“Xét theo tập tục Công đồng và chủ đích mục vụ của Công đồng hiện tại, Thánh Công đồng này xác định rằng, Giáo Hội chỉ phải tuân giữ những điều có liên quan đến đức tin và phong hoá được chính Thánh Công đồng tuyên bố là như vậy”.

   
“Còn những điểm khác được Thánh Công đồng trình bày, vì là giáo thuyết và Huấn Quyền tối thượng của Giáo Hội, nên tất cả và mỗi một ki-tô hữu phải chấp nhận và hiểu theo ý của chính thánh Công đồng, dựa trên những tiêu chuẩn của phương pháp giải thích thần học: ý Công đồng tỏ lộ qua nội dung được trình bày hoặc qua cách diễn tả của Công đồng”.

PERICLES FELICI

Tổng Giám mục hiệu toà Samosate

Tổng Thư ký Thánh Công đồng Vatican II



[29] Piô XI, Tđ. Mit brennender Sorge, 14-3-1937: AAS 29 (1927), tr. 151.

[30] T. Âutinh, Quaest. In Hept. 2, 73: PL 34, 623.

[31] T. Irênê, Adv. Haer. III, 21, 3: PG 7, 950 (= 25, 1: Harvey, 2, tr. 115). – T. Cyrillô Giêrus., Catech. 4, 35: PG 33,497. – Thêôđôrô Mops., In Soph. 1, 4-6: PG 66, 452 D-453A.

[32] Xem T. Irênê, Adv. Haer III, 11, 8: PG 7, 885; Sagnard, tr. 194.

[33] Xem Ga 14,26; 16,13.

[34] Xem Ga 2,22; 12,16; x. 14,26; 16,12-13; 7,39.

[35] Xem Huấn thị Sancta Mater Ecclesia do Uỷ Ban Giáo Hoàng về các Nghiên cứu Thánh Kinh xuất bản: AAS 56 (1964), tr. 715.

[36] Xem Piô XII, Tđ. Divino Afflante Spiritu, 30-9-1943: EB 551, 553, 567. Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo hoàng, Huấn thị De S. Scriptura in Clericorum Seminariis et Religiosorum Collegiis recte docenda, 13-5-1950: AAS 42 (1950), tr. 495-505.

[37] Xem Piô XII, nt.: EB 569.

[38] Xem Lêô XIII, Tđ. Providentissimus Deus: EB 114. – Bênêđíchtô XV, Tđ. Spiritus Paralitus, 15-9-1920: EB 483.

[39] T. Âutinh, Serm. 179, 1: PL 38, 966.

[40] T. Giêrônimô, Comm. in Is., Prol.: PL 24, 17. – X. Bênêđíchtô XV, Tđ. Spiritus Paraclitus: EB 475-480. – Piô XII, Tđ. Divino Afflante Spiritu: EB 544.

[41] T. Ambrosiô, De Officiis ministrorum I, 20, 88: PL 16, 50.

[42] T. Irênê, Adv. Haer. IV, 32, 1: PG 7, 1071, (= 49,2  Harvey 2, tr. 255).