Hát Lên Bài Ca Mới (3)
Bài 3: Tuyên khấn để thi hành sứ vụ (Phần 2).
TUYÊN KHẤN ĐỂ THI HÀNH SỨ VỤ - Phần II
Timothy Radcliffe, OP
ĐỨC THANH BẦN: LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA NHÂN TỪ
Đức thanh bần là lời khấn rất khó tìm được từ ngữ diễn tả cho chính xác, vì hai lý do. Những anh chị em thực sự tiếp cận với cái nghèo lại là những ngưòi ngại nói đến cái nghèo nhất. Họ biết chúng ta nói nhiều đến nghèo khó, và "sự lựa chọn đứng về phía người nghèo" là những từ hoa mỹ rỗng tuếch như thế nào. Họ biết cuộc sống của những người nghèo kinh khủng ra sao, thường là những người không có hy vọng, bị đè bẹp bởi bạo lực như cơm bữa, lo lắng, bất an, lệ thuộc. Ai trong chúng ta đã từng thấy - dù là xa xa - nghèo khó giống với cái gì, thì thưòng không tin vào những từ ngữ dễ dãi. Bản thân chúng ta đã từng thực sự biết sống trong tình trạng bị tước đoạt, bất an và vô vọng như thế nghĩa là gì chưa?
Lý do thứ hai khiến cho rất khó viết về sự khó nghèo, đó là ý nghĩa sống nghèo trong xã hội này khác với trong xã hội khác, lệ thuộc nhiều vào bản chất của những mối liên hệ gia đình, kiểu mẫu kinh tế, những điều kiện xã hội của một quốc gia, v.v ... Ở Ấn Độ, khó nghèo là điều thuộc về truyền thống lâu đời coi khất thực là chuyện thánh thiêng, còn ở châu Phi, nơi đa số nền văn hóa coi sự giàu sang là phúc lành của Thiên Chúa, thì khó nghèo lại mang ý nghĩa khác, và trong xã hội tiêu thụ Tây phương lại khác nữa. Đối với chúng ta, ý nghĩa việc tuyên lời khấn thanh bần còn rõ rệt về phương diện văn hóa hơn là đức thanh bần và khiết tịnh. Khuôn khổ và nơi chốn của cộng đoàn, các việc tông đồ của anh em, đặt ra những bó buộc khác nhau khiến chúng ta phải tránh những phán đoán quá dễ dãi về chuyện những người khác sống lời khấn này tốt đẹp như thế nào.
Cũng như các lời khấn khác, trước hết, đức thanh bần là một phương tiện. Đức thanh bần cho chúng ta sự tự do để đi giảng thuyết khắp nơi. Anh em sẽ không thể là một nhà du thuyết nếu anh em phải chở theo mọi đồ đạc mỗi khi lên đường. Trong sắc chỉ Cum Spiritu Fervore ban hành năm 1217, Đức Giáo hoàng Honorius III đã viết rằng thánh Đa Minh và các anh em của người "được tinh thần hăng say khích lệ, đã giũ bỏ gánh nặng của những người giàu có ở thế gian này, và khi nhiệt thành rong ruỗi đi truyền bá Tin mừng, các ngài đã nhất định thi hành nhiệm vụ giảng thuyết trong hoàn cảnh khiêm tốn của đức thanh bần tự nguyện, sẵn sàng chịu lấy vô số những khổ đau và nguy hiểm, để phục vụ ơn cứu độ tha nhân" (Trích dẫn bởi Marie-Humbert Vicaire, Dòng Đa Minh năm 1215, Peter Lobo biên soạn, The Genius of St. Dominic, tr. 75).
Chúng ta được mời gọi từ bỏ không những của cải giàu sang để theo Chúa Kitô, mà còn cả "anh em, chị em, cha mẹ, vì lòng yêu mến Thầy". Sự từ bỏ đem lại cho chúng ta tự do, nhưng cũng hàm ẩn một thái độ đoạn tuyệt triệt để với những mối dây ràng buộc gia đình, nghĩa là mất quyền thừa kế. Cần phải hình dung những hệ quả của vấn đề này một cách vô cùng tế nhị, vì bản chất những mối dây ràng buộc gia đình đã thay đổi nhiều trong xã hội. Ngày nay, trong các gia đình thường gặp chuyện ly dị và tái hôn, rồi trong một số xã hội, anh chị em của chúng ta càng ngày càng là những người con một trong gia đình. Chúng ta có nghĩa vụ thực sự đối với cha mẹ, nhưng làm thế nào để dung hoà với việc hiến dâng triệt để bản thân khi - qua các lời khấn trong Dòng - chúng ta dâng hiến cuộc đời để rao giảng Tin mừng. Quả là mâu thuẫn khi thường thường các phần tử của gia đình đã tuyên lời khấn tu trì mà người ta cho là "tự do" lại đi giúp đỡ cha mẹ già yếu hay bệnh tật. Chúng ta phải hết sức chú ý khi suy nghĩ về vấn đề này.
Lời khấn thanh bần cho ta sự tự do để dâng hiến chính bản thân chúng ta mà không giữ lại điều gì, hầu có thể đi rao giảng Tin mừng, nhưng thanh bần không chỉ là một phương thế hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa tiện ích. Tương tự như các lời khấn khác, thánh Thomas viết: đức thanh bần hướng đến caritas, tình yêu, tức là chính sự sống của Thiên Chúa. Phải sống thanh bần như thế nào để chúng ta có đủ uy tín mà nói về Thiên Chúa?
Có lẽ một cách trả lời câu hỏi trên là xét xem đức thanh bần liên hệ đến những khía cạnh căn bản của bí tích tình yêu, tức là Thánh Thể, như thế nào. Vì Thánh Thể là bí tích của sự hiệp nhất, sự hiệp nhất mà khó nghèo phá hủy. Đây là bí tích mang tính chất có thể bị tổn thương, là tính chất mà người nghèo phải chịu đựng. Đó là giây phút dâng hiến, điều mà xã hội tiêu thụ chống đối. Khi hỏi chúng ta có thể và phải sống nghèo như thế nào, tức là hỏi xem chúng ta phải sống theo cách bí tích Thánh Thể làm sao.
TÍNH CHẤT VÔ HÌNH
Đêm trước ngày chịu chết, Đức Kitô qui tụ các môn đệ để cử hành giao ước mới. Đó là lúc khai sinh một nơi mà mọi người có thể vào ở, bởi vì Đức Giêsu bấy giờ đảm nhận tất cả những gì có thể huỷ hoại cộng đoàn nhân loại: sự phản bội, chối từ, và cả cái chết. Sự vấp phạm của cái nghèo là nó xé rách những gì Chúa Kitô đã hiệp nhất. Nghèo khó không chỉ là một tình trạng kinh tế, là thiếu thốn lương thực hoặc việc làm. Nghèo khó làm tan nát gia đình nhân loại, làm cho chúng ta trở nên những người xa lạ đối với anh chị em mình. Ông Ladarô nằm trước cửa nhà ngưòi giàu có kia, không chỉ có nghĩa là không được chia sẻ lương thực, mà còn bị loại ra khỏi bàn ăn. Vực thẳm ngăn cách đôi bên sau khi chết chỉ là hình ảnh cho thấy tình trạng ấy đã kéo dài suốt cả cuộc đời của họ. Trong thế giới chúng ta hôm nay, hố ngăn cách nước giàu với nước nghèo và ngăn cách ngay trong những quốc gia ấy, càng ngày càng trở nên sâu rộng. Ngay trong những nước giàu có thuộc Cộng đồng châu Âu, có gần hai mươi triệu người thất nghiệp. Thân thể Chúa Kitô đang bị chia cắt.
Đức thanh bần tự nguyện mà chúng ta tuyên khấn có giá trị không phải vì - theo một nghĩa nào đó - sống nghèo là một điều tốt. Nghèo là điều đáng ghê tởm. Nghèo chỉ có ý nghĩa khi nó giúp người ta vượt qua những ranh giới phân cách con người với nhau, khi nó là sự hiện diện bên cạnh anh chị em chúng ta. Lời giảng dạy của chúng ta về sự hiệp nhất trong Chúa Kitô sẽ có giá trị thế nào nếu chúng ta không dám khai phá con đường này? Hồi năm ngoái, tôi đã thấy các chị em nữ tu có thể cho các anh em một bài học đáng giá như thế nào, khi các chị âm thầm hiện diện giữa những người nghèo ở nhiều miền đất trên thế giới. Họ hiểu tầm quan trọng của việc chỉ cần hiện diện ở đó như một dấu chỉ của Nước Trời.
Thánh Thể là nền tảng ngôi nhà của toàn thể nhân loại. Người nghèo có thể cảm thấy mình đang ở trong nhà mình, và được người nhà tiếp đãi tử tế ở trong các cộng đoàn của chúng ta không? Họ có cảm thấy phẩm giá của họ được tôn trọng không? Hay là họ cảm thấy sợ và thấy hèn kém? Nhà cửa của chúng ta thu hút họ đến hay xua đuổi họ đi? Đối với người nghèo, một trong những cách bị loại ra ngoài cộng đoàn nhân loại, đó là trở thành những người không ai nhìn thấy và không ai nghe biết. Họ biến mất, giống như ông Ladarô ở trước cửa nhà người phú hộ. Khi hành khách đến nhà ga chính ở
CHẤP NHẬN BỊ TỔN THƯƠNG
Trong Bữa Tiệc ly, Chúa Kitô đã nhận lấy đau khổ và cái chết. Người đã chấp nhận tính chất có thể bị tổn thương cơ bản nơi con người, tức là nguy cơ bị thương tích và phải chết. Lời khấn thanh bần chắc chắn cũng mời gọi chúng ta nhận lấy tính chất có thể bị tổn thương. Trong sắc chỉ của Đức Giáo hoàng Honorius III tôi vừa trích dẫn ở trên, thánh Đa Minh và các anh em của Người được khen ngợi không phải chỉ vì các ngài là những người nghèo, nhưng vì các ngài "sẵn sàng chịu lấy vô số những khổ đau và hiểm nguy để phục vụ ơn cứu độ của tha nhân". Chúng ta phải chia sẻ với ngưởi nghèo - dù chỉ là một chút xíu - tinh thần chấp nhận bị tổn thương nơi theo nghĩa nào?
Cho dù có ăn ít, chúng ta vẫn còn một lối thoát nếu chúng ta không thể chịu đựng nổi nữa. Dòng sẽ không để chúng ta phải chết đói đâu. Thế nhưng, tôi đã gặp những anh chị em dám đi xa hơn những gì họ có thể, chẳng hạn như ở một trong những làng nhỏ dữ dội nhất ở
Lời Đức Kitô mời gọi chấp nhận bị tổn thương phải chất vấn chúng ta về cách thức chúng ta cùng nhau sống đức thanh bần. Liệu chúng ta có dám sống tinh thần có thể bị tổn thương mà đời sống chung giả thiết là có không? Chúng ta có thực sự sống nhờ một túi tiền chung không? Chúng ta có chấp nhận sự bất ổn bằng cách giao cho cộng đoàn tất cả những thứ chúng ta nhận được, đánh liều rằng cộng đoàn có thể không cho chúng ta tất cả những gì chúng ta nghĩ là mình cần không? Làm sao có thể nói về Chúa Kitô, Đấng đã phó mình vào tay chúng ta, nếu chúng ta không thực hành điều đó? Cộng đoàn của chúng ta có bị phân chia thành những giai cấp kinh tế không? Có ai trong chúng ta đi đến chỗ có nhiều tiền hơn những người khác không? Giữa các cộng đoàn trong tỉnh dòng, hoặc giữa các tỉnh dòng với nhau, có thực sự chia sẻ nguồn lợi cho nhau không?
DÂNG HIẾN
Trọng tâm cuộc đời chúng ta có việc cử hành giây phút thể hiện sự chấp nhận bị tổn thương và quảng đại trọn vẹn, đó là lúc Đức Giêsu cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy, bị trao nộp vì anh em." Trọng tâm của Tin Mừng là giây phút dâng hiến tinh tuyền. Đó là nơi Caritas - tình yêu của Thiên Chúa - trở thành cụ thể nhất. Đó là sự quảng đại mà xã hội chúng ta khó lòng lãnh hội, vì xã hội này là một thị trường, ở đó người ta mua bán mọi thứ. Đối với xã hội ấy, một Đấng Thiên Chúa đã kêu lên: "Hãy đến với tôi, hỡi tất cả các ngươi là những kẻ đang khát, và tôi sẽ cho các ngươi lương thực mà không phải trả tiền" có nghĩa là gì? Tất cả mọi xã hội loài người đều có chợ búa, mua bán và trao đổi hàng hóa. Xã hội Tây phương khác ở chỗ bản chất của nó là một cái chợ. Đó là khuôn mẫu căn bản đang chế ngự và hình thành quan niệm của chúng ta về xã hội, về chính trị, thậm chí về con người nữa. Mọi cái đều được rao bán. Thiên nhiên phong phú vô tận, đất, nước, đều là hàng hóa. Ngay cả con người của chúng ta cũng ở trên "thị trường lao động". Thứ văn hóa tiêu thụ này đang đe dọa xâm lăng toàn thể thế giới, và nó có quyền làm như thế nhân danh tự do, trong khi nó giam hãm chúng ta trong một thế giới không có gì là tự do cả. Thậm chí khi chúng ta ý thức về cảnh cùng quẫn của người nghèo và tìm cách đáp ứng, thì caritas rất thường bị tiền tệ hóa thành "việc bác ái", trong đó người ta trao tặng tiền bạc thay vì chia sẻ sự sống.[7]
Làm sao chúng ta có thể là người giảng thuyết về một Thiên Chúa nhân từ và đại lượng, Đấng ban cho chúng ta sự sống của Người, nếu chúng ta lại bị giam hãm trong nền văn hóa xâm chiếm mọi sự như thế này? Một trong những đòi hỏi căn bản nhất của lời khấn thanh bần chắc chắn là chúng ta phải sống đơn giản để có thể nhìn thế giới một cách khác và nắm bắt được đôi nét về một Thiên Chúa tuyệt đối yêu thương. Cuộc sống trong các cộng đoàn của chúng ta phải đơn giản để giúp chúng ta thoát khỏi những hứa hẹn hão huyền của nền văn hóa tiêu thụ, và khỏi "quyền thống trị của của cải" (Hiến pháp 31.1). Thế giới sẽ khác đi khi ta ngồi trên băng sau chiếc Mercedès thay vì ngồi trên yên chiếc xe đạp. Chân phưóc Giôđan nói rằng thánh Đa Minh là "một người thật sự yêu quí đức thanh bần", có lẽ không phải vì thanh bần tự nó đáng yêu, nhưng vì nó có thể gợi cho chúng ta những khát vọng sâu xa nhất. Tôi thường rất cảm kích trước niềm vui và sự thanh thoát của các anh chị em sống trong cảnh đơn sơ và nghèo khó.
Tại một vài nơi, ngay ngôn ngữ chúng ta sử dụng để nói về đời sống chung cũng khiến chúng ta phải chú ý đến những nguy cơ bị thế giới công việc nhận chìm các giá trị. Các tu sĩ được gọi là "nhân sự", rồi một "phòng tổ chức", bề trên thì đảm đương vai trò "điều hành", "quản trị", còn chúng ta thì học những "kỹ thuật điều hành". Chúng ta có thể tưởng tượng ra thánh Đa Minh như là đệ nhất Chủ tịch của công ty Dòng Anh Em Thuyết Giáo không? Có bao nhiêu lần vị giám tỉnh ngăn cản một anh em tìm những phương cách mới mẻ có tính sáng tạo để giảng dạy, bởi vì tỉnh dòng phải chi trả cho công việc ấy?
Nhà cửa chúng ta đang ở đều là hồng ân. Chúng ta có ở và sử dụng với lòng biết ơn hay không? Chúng ta có tinh thần trách nhiệm đối với những gì được ban cho chúng ta, đối với các công trình kiến trúc, đối với những gì chúng ta đã nhận hay không? Chúng ta có cần những cơ sở chúng ta hiện đang có không? Nhà cửa của chúng ta có thể sử dụng hữu ích hơn không? Các anh em quản lý là những ngưòi phải lo một trách nhiệm bạc bẽo, dẫu họ giữ vai trò sinh tử để giúp chúng ta chu toàn trách nhiệm đối với những người đã tỏ lòng đại lượng đối với chúng ta.
ĐỨC KHIẾT TỊNH: TÌNH BẰNG HỮU CỦA THIÊN CHÚA
Chúng ta có một nhu cầu cấp bách là phải cùng nhau suy nghĩ về ý nghĩa của lời khấn khiết tịnh. Lời khấn này liên hệ đến những vấn đề chủ yếu của con người chúng ta: phái tính, thân thể, nhu cầu diễn tả và đón nhận tình cảm, thế nhưng chúng ta thường sợ phải nói đến. Vậy mà nhiều khi đó lại là lãnh vực mà chúng ta phải chiến đấu một mình, chúng ta sợ bị phê phán hoặc không thông cảm.
Dĩ nhiên, cũng như các lời khấn khác, khiết tịnh là một phương tiện. Lời khấn này mang lại cho chúng ta sự tự do để đi giảng thuyết, tính di động để có thể đáp ứng những nhu cầu của Dòng. Nhưng đối với lời khấn này, có lẽ điều đặc biệt quan trọng đó là không được giữ lời khấn chỉ như một sự cần thiết khắc nghiệt. Nếu chúng ta không tìm hiểu cặn kẽ, thì sau khi đã sống tích cực lời khấn này qua một thời gian dài và qua nhiều đau khổ, nó có thể phá hoại cuộc đời chúng ta. Chúng ta có thể học hỏi về lời khấn này, bởi vì cũng như các lời khấn khác, lời khấn khiết tịnh hướng tới caritas, tình yêu, tức là chính sự sống của Thiên Chúa. Đó là một cách thế đặc biệt để yêu thương. Nếu không, khiết tịnh sẽ đưa chúng ta đến chỗ thất vọng và cằn cỗi.
Tội đầu tiên ngược lại đức khiết tịnh là không biết yêu thương. Người ta vẫn thường nói về thánh Đa Minh rằng, "vì thánh nhân yêu hết mọi người nên được mọi người mến yêu". Một lần nữa, chúng ta lại đụng chạm đến vấn đề uy tín của lời chúng ta giảng. Chúng ta có thể nói Thiên Chúa là tình yêu thế nào được nếu tình yêu không phải là một mầu nhiệm mà chúng ta đang sống? Nếu quả chúng ta đang sống mầu nhiệm tình yêu, thì tình yêu sẽ đòi hỏi chúng ta chết và phục sinh. Chúng ta bị cám dỗ để đào tẩu. Con đường thông thường là hoạt động thật nhiều, chìm ngập trong trăm công nghìn việc, thậm chí là việc tốt, việc quan trọng, để trốn tránh khỏi nỗi cô đơn. Chúng ta có thể bị cám dỗ trốn tránh thực tại là phái tính, là thân thể của chúng ta. Ấy thế mà Dòng lại ra đời đúng vào lúc có cuộc đấu tranh chống lại chủ thuyết nhị nguyên như thế. Thánh Đa Minh là người đã giảng thuyết chống lại sự phân rẽ thân thể với linh hồn, tinh thần với vật chất. Sự phân rẽ ấy vẫn còn là một cơn cám dỗ thời đại. Một phần lớn văn hóa hiện đại bị nhiễm thuyết nhị nguyên một cách sâu sắc. Phim khiêu dâm dường như là một cách để thỏa mãn tính dục, kỳ thực lại là trốn chạy, là từ chối tính chất có thể bị tổn thương mà mối tương quan nhân loại đòi phải có. Người xem phải tránh né, có thể bị xấu hổ, phải cảnh giác, sợ hãi.
Chính thân thể chúng ta đã được chúc lành và được thánh hóa trong mầu nhiệm Nhập thể. Nếu chúng ta phải là những người giảng thuyết về một Lời đã thành xác phàm, thì chúng ta không thể chối từ hoặc quên đi chúng ta là gì. Chúng ta có lo lắng cho thân thể anh em chúng ta, có bảo đảm rằng thân thể đó được đủ lương thực cần dùng, có săn sóc anh em khi anh em đau ốm, có ân cần khi anh em đã về già không? Để khích lệ một tu sĩ trẻ dòng Biển Đức đang phải chịu những đau khổ đầu đời tình bạn, Bede Jarrett OP viết:
Tôi sung sướng vì nghĩ rằng cơn cám dỗ của bạn cũng đã là cơn cám dỗ của Thanh giáo, cơn cám dỗ của một thái độ hẹp hòi, một thứ phi nhân nào đó. Bạn đi đến chỗ hầu như từ chối rằng vật chất cũng đã được thánh hóa. Bạn ở trong tình yêu của Thiên Chúa, nhưng thật ra thì không phải của mầu nhiệm Nhập thể. Quả thực bạn sợ hãi.[8] Nền tảng đức khiết tịnh của chúng ta không bao giờ có thể là sự sợ hãi, sợ phái tính, sợ thân thể của chúng ta, sợ những người khác phái. Sợ hãi không bao giờ có thể là nền tảng tốt lành cho đời tu được. Vì Thiên Chúa, Đấng đến với chúng ta, đã dám trở thành thịt và máu, cho dù điều đó đưa Người đến chỗ bị đóng đinh thập giá. Cuối cùng lời khấn này đòi hỏi chúng ta phải đi qua nơi mà Thiên Chúa đã đi qua trước. Thiên Chúa chúng ta đã làm người, Người cũng mời gọi chúng ta như thế.
Thánh Thomas quả quyết một cách đáng ngạc nhiên rằng mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa là mối tương quan bằng hữu, amicitia. Tin mừng chúng ta rao giảng, đó là chúng ta tham dự vào mầu nhiệm vô biên của tình bằng hữu giữa Chúa Cha và Chúa Con, tức là Thánh Thần. Thực vậy, thánh Thomas cắt nghĩa rằng "các lời khuyên Tin mừng" là những lời khuyên do Chúa Kitô cống hiến cho tình bằng hữu. Lời khấn khiết tịnh là một cách để sống tình bằng hữu này. Để có thể suy tư về những gì lời khấn này đòi hỏi, chúng ta hãy suy nghĩ vắn tắt về hai khía cạnh trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi: đó là một tình yêu tuyệt đối quảng đại và không chiếm hữu, và đó là một tình yêu giữa các ngôi vị bình đẳng.
MỘT TÌNH YÊU KHÔNG CHIẾM HỮU
Tình yêu trong Thiên Chúa Ba Ngôi là một tình yêu tuyệt đối quảng đại và không có tính cách chiếm hữu. Qua tình yêu đó, Chúa Cha trao cho Chúa Con tất cả những gì Người là, cả thần tính nữa. Đó không phải là một tình cảm hoặc cảm xúc, nhưng là tình yêu làm cho Chúa Con hiện hữu. Bất kỳ tình yêu nào của con người, của những người đã lập gia đình hay của các tu sĩ, đều phải tìm cách sống và chia sẻ mầu nhiệm tình yêu ấy, chia sẻ sự quảng đại không nhằm chiếm giữ ấy. Là những người đã khấn giữ đức khiết tịnh, chúng ta hoàn toàn không được mơ hồ về những gì tình yêu này đòi hỏi chúng ta. Khiết tịnh không chỉ có nghĩa là chúng ta không cưới vợ lấy chồng, nhưng còn có nghĩa là chúng ta từ khước mọi hoạt động tính dục. Phải có thái độ từ khước rõ ràng và thực sự, một thứ khổ chế. Ngược lại, nếu chúng ta giả vờ và tự ý chấp nhận những thỏa hiệp, lúc ấy chúng ta đi vào con đường cuối cùng có thể không còn chịu đựng nổi nữa, rồi gây ra những bất hạnh khủng khiếp cho chính chúng ta cũng như cho nhiều người khác.
Điều thứ nhất chúng ta phải làm, đó là tin rằng lời khấn khiết tịnh thực sự có thể là một cách thế yêu thương. Dầu cho chúng ta có phải trải qua những lúc thất vọng và chán nản, nó vẫn là con đường có thể làm cho chúng ta trở nên những hữu thể giàu tình cảm và hoàn toàn nhân bản. Những người lớn tuổi trong cộng đoàn thường là những dấu chỉ đem lại cho chúng ta niềm hy vọng. Chúng ta gặp gỡ những người nam nữ đã vượt qua những thử thách về đức khiết tịnh và đã đạt tới sự tự do của những người có thể yêu thương trong tự do. Họ có thể là những dấu chỉ cho chúng ta thấy rằng không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được.
Để đi vào trong tình yêu tự do và không chiếm hữu, đòi hỏi phải có thời gian. Chúng ta có thể gặp những thất bại và nản lòng trên con đường đi. Bây giờ nhiều người vào Dòng khi tuổi đã lớn, đã có những kinh nghiệm về phái tính, nên chúng ta đừng tưởng đức khiết tịnh như là một sự vô tội mà chúng ta có thể đánh mất, nhưng là một trái tim toàn vẹn trong đó chúng ta có thể lớn lên. Với ân sủng của Thiên Chúa, ngay những thất bại cũng có thể dẫn đến con đường để chúng ta đi mà trở thành chín chắn hơn. Bởi vì "chúng ta biết rằng, nơi mọi sự Thiên Chúa đều đang hoạt động vì ích lợi của những ai mến yêu Người" (Rm 8,28).
Cộng đoàn phải là nơi chúng ta đem lại cho nhau sự can đảm khi trái tim của một người lâm vào hoàn cảnh do dự, đem lại sự tha thứ khi một người vấp ngã, và đem lại chân lý khi có người bị cám dỗ lừa dối chính mình. Chúng ta đừng tin vào sự tốt lành của anh chị em chúng ta khi chính họ không tin. Không có gì độc địa hơn là khinh dể chính mình. Trong lá thư về "Đời sống cộng đoàn", cha Damian Byrne[9] đã viết như sau:
Đang khi đền thờ thuần khiết nhất trong con tim chúng ta được hiến dâng cho Thiên Chúa, ta lại có cảm nghiệm về những nhu cầu khác. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta để một phần quan trọng trong cuộc đời chúng ta có thể đón nhận người khác và cần thiết cho người khác. Mỗi người chúng ta cần cảm nghiệm được lợi ích thực sự của các thành viên khác trong cộng đoàn, cảm tình, lòng quí mến và tình bạn của họ... Sống chung có nghĩa là chia sẻ với nhau lương thực của lý trí và trái tim. Khi người tu sĩ không tìm được những thứ đó nơi cộng đoàn, họ sẽ đi tìm ở nơi khác.[10]
Đôi khi, để đi tới sự tự do đích thực và sự vẹn toàn của trái tim, chúng ta buộc phải đi qua thung lũng cái chết, mà hình như chúng ta thấy duy có mình chúng ta phải đương đầu với sự cằn cỗi và thất vọng. Phải chăng thực sự có thể tiến bước trên hành trình này mà không cần đến cầu nguyện? Trước hết, có lời cầu nguyện chúng ta chia sẻ với cộng đoàn, lời cầu nguyện hàng ngày, nền tảng của đời sống chúng ta. Nhưng cũng còn có lời cầu nguyện riêng tư âm thầm, lời cầu nguyện đưa chúng ta đối diện với Thiên Chúa, những khoảnh khắc trực diện với chân lý và bỡ ngỡ trước lòng thương xót. Chính ở đó chúng ta có thể học biết thế nào là hy vọng. Chính thánh Đa Minh, khi đi đường, đôi khi vẫn xin anh em đi trước lên một chút để Người có thể cầu nguyện một mình, và trong bản văn Hiến pháp tiên khởi, thánh Đa Minh còn yêu cầu các giám sư phải dạy các tập sinh biết cầu nguyện trong thinh lặng. Chị em đan sĩ có nhiều điều để chia sẻ cho anh em về gia trị của lời cầu nguyện trong thinh lặng.
TÌNH YÊU ĐEM LẠI SỰ BÌNH ĐẲNG
Sau cùng, tình yêu nơi Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối phong phú. Tình yêu ấy sinh ra, tạo nên tất cả những gì hiện hữu. Điều chúng ta muốn chiến đấu để giành được khi thực thi đức khiết tịnh không phải chỉ là nhu cầu tình cảm, nhưng là khát vọng hạ sinh. Thái độ quan tâm đối với nhau chắc chắn phải bao hàm sự chú ý đến tính sáng tạo mà mỗi người chúng ta đang sở hữu, và tính sáng tạo mà cuộc sống Đa Minh phải giải phóng vì Tin Mừng. Đó có thể là óc sáng tạo của một anh em hay chị em muốn đưa cộng đoàn trở thành một giáo xứ, hoặc là lao động trí thức của một nhà thần học, hoặc như các chú tiền tập ở Salvador đang hoạt động sân khấu một cách ngẫu hứng. Đức khiết tịnh của chúng ta không bao giờ là cái gì khô cằn.
Tình yêu, tức là Thiên Chúa, có sự phong phú để tạo nên sự bình đẳng. Thiên Chúa Ba Ngôi không có sự thống trị hay lèo lái. Thiên Chúa Ba Ngôi không theo khuynh hướng gia trưởng cũng không có khuynh hướng chiếu cố. Lời khấn khiết tịnh của chúng ta chính là tình yêu, một tình yêu mời gọi chúng ta sống và rao giảng. Theo thánh Thomas viết, tình bằng hữu tìm kiếm và tạo nên sự bình đẳng.
Tình huynh đệ trong truyền thống Đa Minh, hình thức dân chủ trong cách quản trị mà chúng ta yêu chuộng, đều không chỉ là một cách thế tổ chức đời sống của chúng ta và để đưa ra những quyết định, nhưng còn muốn nói lên một điều gì đó thuộc mầu nhiệm đời sống của Thiên Chúa. Việc các anh em được nhìn nhận như là một Ordo Fratum Praedicatorum là biểu hiện điều chúng ta rao giảng, đó là mầu nhiệm tình yêu bình đẳng hoàn hảo tức là Thiên Chúa Ba Ngôi.
Điều đó phải là đặc điểm mọi mối tương quan của chúng ta. Khi nhìn nhận phẩm giá của mỗi người cũng như sự bình đẳng của mọi thành phần trong gia đình, Gia đình Đa Minh là cách chúng ta sống lời khấn này một cách tốt đẹp. Mối tương quan giữa các chị em với các anh em, giữa các tu sĩ với giáo dân, cũng là "tác vụ giảng thuyết thánh". Ngay nỗ lực của chúng ta muốn tìm kiếm một thế giới công bằng hơn, trong đó phẩm giá của mỗi người được tôn trọng, cũng chẳng phải là một đòi hỏi thuần luân lý, nhưng nỗ lực ấy nói lên mầu nhiệm tình yêu, tức là sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta được mời gọi thể hiện.
KẾT LUẬN
Khi thánh Đa Minh đi ngang qua các làng mạc có những người theo giáo phái Anbi đe dọa sự sống của người, Người quen hát lớn tiếng để ai nấy biết người đang có mặt ở đó. Các lời khấn chỉ có giá trị nếu các lời khấn giải thoát chúng ta để chúng ta phục vụ sứ mạng của Dòng với đôi chút can đảm và niềm vui của thánh Đa Minh. Các lời khấn không được trở nên một gánh nặng đè bẹp chúng ta, nhưng đem lại cho chúng ta sự tự do để chúng ta tiến bước thanh thản nhẹ nhàng khi chúng ta đi đến những địa điểm mới, để làm những công việc mới. Những gì tôi viết trong lá thư này chỉ là một cách diễn tả khập khiễng so với bản chất vấn đề. Tôi hy vọng là chúng ta có thể cùng nhau kiến tạo nên một quan điểm đã được mọi người chia sẻ về đời sống Đa Minh của chúng ta, tuyên khấn để thi hành sứ vụ, quan điểm ấy có thể giúp chúng ta thêm mạnh mẽ trong cuộc hành trình, và làm cho chúng ta được tự do mà hát ca.
-------------------
[7] Tác giả chơi chữ : caritas (lòng bác ái); charity (việc bác ái). ND.
[8] The Letters of Bede Jarrett OP, ed. Bede Bailey, Aidan Bellenger and Simon Tugwell, Bath, 1989, p. 180.
[9] Bề trên Tổng quyền 1983-1992; qua đời tháng 2-1996.
[10] A pilgrimage of Faith,
- Hát Lên Bài Ca Mới (2) (02/02/2010)
- Hát Lên Bài Ca Mới (1) (02/02/2010)
- Hát Lên Bài Ca Mới (mở đầu) (01/02/2010)
- Nghệ thuật giảng thuyết (28/01/2010)
- Giảng thuyết - Một nghệ thuật (26/01/2010)
- Giảng thuyết, hồng ân và trách nhiệm (24/01/2010)
- Sự khiêm nhường của Thiên Chúa (08/01/2010)
- Đức Tin Kitô Giáo - Hôm Qua và Hôm Nay (08/12/2009)
- Từ Vựng Triết Thần Căn Bản (04/12/2009)
- ''Huế Cổ, Vết Tích Đạo và Đời'' (19/11/2009)
- Giáo Hội cần loại linh mục nào ? (14/11/2009)
- Thánh Antôn, vị thánh khổ hạnh (01/11/2009)
- Hạnh phúc trong tầm tay (23/10/2009)
- Lịch sử cứu độ (22/10/2009)
- Đặc sủng của đời Linh mục (21/10/2009)

Bản in