Suy Niệm Chúa Nhật 1 Mùa Chay - năm B (2012)

Vào Chúa Nhật I Mùa Chay năm B này, bài đọc I và bài đọc II đều gợi lên hình bóng Phép Rửa, tức là cuộc vượt qua từ cõi chết để bước vào cõi sống.

Lm Inhaxiô Hồ Thông
 

St 9: 8-15

      Đoạn trích sách Sáng Thế gợi lên một nhân loại mới được cứu thoát khỏi trận Đại Hồng Thủy. Thiên Chúa lập giao ước với nhân loại mới nầy qua ông Nô-ê và các con của ông.

      1Pr 3: 18-22

      Trong thư thứ nhất của mình, thánh Phê-rô muốn những người lãnh nhận Phép Rửa hiểu rằng việc vượt qua nước là dấu chỉ của việc họ tham dự vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki tô và đó cũng là dấn thân vào giao ước với Thiên Chúa.

      Mc 1: 12-15

      Tin Mừng Mác-cô tường thuật rất ngắn gọn cuộc thử thách mà Đức Giê-su đã kinh qua trong hoang địa: Ngài chiến thắng các cơn cám dỗ, tức thế lực của sự Ác.

      
BÀI ĐỌC I (St 9: 8-15)

Chữ “Ước”, được dùng trong thuật ngữ “Cựu Ước và Tân Ước” để chỉ toàn bộ Kinh Thánh, được dịch từ nguyên ngữ Hy-lạp sang tiếng La-tin: “Testamentum”, có nghĩa là “Giao Ước”. Vì thế, thuật ngữ “Cựu Ước và Tân Ước” phải được hiểu trọn nghĩa là “Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới”.

      
Quả thật, chữ “Giao Ước” tóm gọn tinh thần của toàn bộ Kinh Thánh, nghĩa là, những mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người chạy xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh. Ấy vậy, có một chỗ đứt đoạn giữa công việc của Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và thi ân, và cách hành xử của con người, tội nhân; nhưng chỗ đứt đoạn nầy về phương diện lịch sử được lòng xót thương của Thiên Chúa chắp lại: sau vài án phạt điển hình, Thiên Chúa tha thứ và tái lập giao ước với nhân loại.

      
1. Giao Ước với ông Nô-ê:

Đây là Giao Ước mà Thiên Chúa đã thiết lập sau trận Đại Hồng Thủy như án phạt của Thiên Chúa trên khắp toàn cõi địa cầu. Giao Ước với hai ông bà nguyên tổ, A-đam và E-và, được thiết lập cách mặc nhiên; Giao Ước với ông Nô-ê được thiết lập cách minh nhiên. Qua ông Nô-ê và hậu duệ của ông, Thiên Chúa giao ước với toàn thể nhân loại.

      
Chiều kích hoàn vũ của Giao Ước với ông Nô-ê nầy càng đáng chú ý hơn đối với những giao ước sau nầy. Thật vậy, Giao Ước với tổ phụ Áp-ra-ham cũng như Giao Ước với ông Mô-sê bị thu hẹp, chỉ còn liên quan đến một dân tộc được tuyển chọn giữa muôn dân (thực ra, dân Chúa chọn nầy có sứ mạng chuẩn bị ơn cứu độ cho hết mọi người).

      
Mặt khác, sau trận Đại Hồng Thủy, Thiên Chúa ban cho cuộc sáng tạo một khởi điểm mới, một nhân loại mới lại bắt đầu. Ông Nô-ê là một người công chính, như A-đam trước đây đã là người công chính khi xuất ra từ bàn tay của Đấng Tạo Hóa. Vì thế, đây đích thật là một công trình sáng tạo mới.

      
2. Ơn cứu độ phổ quát dưới dấu chỉ của nước:

Tác giả soạn thảo chuyện tích trận Đại Hồng Thủy nầy dựa trên những truyền thống xưa và những dữ kiện huyền thoại. Phải nói có hai chuyện tích về trận Đại Hồng Thủy được đan quyện vào nhau. Một chuyện tích xưa thuộc truyền thống Gia-vít không biết đến đề tài Giao Ước và một chuyện tích khác muộn thời hơn truyền thống tư tế (có lẽ trong thời kỳ lưu đày hay sau đó ít lâu) nêu bật đề tài Giao Ước.


Bài đọc I được trích từ chuyện tích thuộc truyền thống tư tế nầy, trong đó chúng ta gặp thấy đề tài Giao Ước. Tác giả của chuyện tích này khoác cho chuyện tích xưa thuộc truyền thống Gia-vít một quan niệm thần học. Khi phân biệt giáo huấn của Thiên Chúa ở trong chuyện tích thuộc truyền thống Gia-vít, tác giả tư tế đã đọc thấy dấu chỉ của ơn cứu độ được dâng hiến cho hết mọi người, ở đó nước sẽ đóng một vai trò quan trọng: “Nếu toàn thể nhân loại đã bị trừng phạt, thì cũng chính toàn thể nhân loại sẽ được cứu, vì lòng xót thương của Thiên Chúa còn lớn hơn cả tội lỗi nữa”. Ơn cứu độ sẽ được thực hiện dưới dấu chỉ của nước, biểu tượng của cuộc tái sinh. Thánh Phê-rô, trong thư mà chúng ta đọc vào Chúa Nhật nầy, gợi lên ở nơi chuyện tích này hình bóng Phép Rửa.

      
3. Giao ước với tất cả mọi sinh vật:

Giao Ước của Thiên Chúa trải rộng cho hết mọi sinh vật. “Cử chỉ này là một hành vi sáng tạo” trong “các chuyện tích về các nguồn gốc” (St ch. 1-11). Nô-ê, A-đam mới, cũng như những sinh vật đều đã được cứu thoát, từ nay được đảm bảo tồn. Thiên Chúa không từ bỏ bất cứ gì từ cuộc sáng tạo ban đầu.

      
Chúng ta có thể nhấn mạnh thêm rằng đại họa Hồng Thủy đã đến hồi kết thúc, nước phía trên đã được phân rẽ khỏi nước phía dưới, và đất trồi lên, như trong cuộc sáng tạo đầu tiên. Mọi sự lại bắt đầu. Như vậy, Phép Rửa sẽ có ý nghĩa của một cuộc vượt qua từ cõi chết bước vào cõi sống.

      
4. Cầu vồng:

Dân Hy-lạp xem cầu vồng là khăn quàng của nữ thần Iris, sứ giả của các thần linh. Dân Do thái đặt trọng tâm trên vấn đề về những mối quan hệ giữa trời và đất, vì thế thấy ở đây một dấu chỉ của việc Thiên Chúa giao hòa với nhân loại. Chiếc cầu vồng nối liền trời với đất biểu thị chiều kích phổ quát của Giao Ước, một lời giải thích mang đậm nét thi ca về lời hứa của Thiên Chúa. Từ nay, Thiên Chúa “gác cây cung lên mây”, tức là không còn dùng khí cụ tiêu diệt nữa. Việc cầu vòng xuất hiện trên không trung loan báo điềm lành: cơn mưa đã tạnh.

      
BÀI ĐỌC II (1Pr 3: 18-22)

Đoạn trích thư nầy vang dội bài đọc I, nhắc lại trận Đại Hồng Thủy và Giao Ước mà Thiên Chúa thiết lập với ông Nô-ê. Thánh Phê-rô nêu bật hình bóng Phép Rửa.


1. Hoàn cảnh:

Thư thứ nhất của thánh Phê-rô nầy được viết ở Rô-ma vào những năm 60-64 (thánh nhân được phúc tử đạo vào năm 64). Thư được gởi đến cho tất cả Ki-tô hữu bị phân tán khắp miền Tiểu Á vì bị quấy nhiễu hay bị bách hại. Vị lãnh đạo Giáo Hội quan tâm đến đàn chiên của mình. Bức thư của thánh nhân nhắc nhớ những chân lý cốt yếu của đức tin.

     
Bức thư nầy đã được một cộng tác viên của thánh Phê-rô là ông Xin-va-nô biên soạn: “Nhờ tay anh Xin-va-nô mà tôi coi là một người anh em trung tín, tôi viết ít lời để khuyên nhủ anh em…” (5: 12). Ông này cũng là người bạn đồng hành thân tín của thánh Phao-lô. Có lẽ vì thế mà những dấu ấn của thánh Phao-lô được gặp thấy ở nhiều đoạn trong thư nầy; như trong đoạn trích hôm nay, chúng ta ghi nhận “chết vì tội lỗi chúng ta”, hay việc đối lập giữa “thân xác và thần khí”, hoặc “Phép Rửa” đồng nghĩa với việc “tham dự vào cuộc Phục Sinh của Đức Ki tô”.

      
Thánh Phê-rô ngỏ lời với những người Ki-tô hữu đang phải hứng chịu những lời chế nhạo và vu khống của dân ngoại. Thánh Tông Đồ khuyên họ hãy can đảm theo gương Đức Ki tô, Ngài đã chịu đau khổ dù vô tội. Từ đó, thánh nhân gợi lên ơn Cứu Chuộc và những ân phúc của nó đối với những người đã qua đời cũng như những người đang sống.

      
2. Đối với những người đã qua đời:

Đây là một đoạn văn đặc thù trong các bản văn Tân Ước gợi lên Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông.

      
Việc Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông muốn nói lên rằng việc cứu chuộc những tội nhân không chỉ có giá trị đối với những ai đã qua đời sau biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki tô, nhưng cũng có hiệu quả trở về trước nữa. Đức Ki-tô đã đến “loan báo Tin Mừng” cho các vong nhân, và đặc biệt hơn nữa, cho những vong nhân bị quên lãng và bị nguyền rủa, thậm chí vào thời ông Nô-ê và con cái của ông là những người công chính duy nhất. Những vong nhân nầy xuất hiện trong truyền thống Do thái (và đặc biệt trong văn chương khải huyền) như những kẻ nổi loạn. Chắc chắn đó là lý do mà thánh Phê-rô viện dẫn họ để ca ngợi quyền năng của ơn Cứu Chuộc và lòng xót thương vô lượng hải hà của Thiên Chúa.

      
Mặt khác, việc Đức Giê-su xuống cõi âm ty nêu bật giá trị của việc Ngài lên trời trong vinh quang. Đấng xuống cõi âm ty chính là Đấng “ngự bên hữu Chúa Thiên Chúa, bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền Ngài”. Vinh quang tuyệt mức tương ứng với sự khiêm hạ tột cùng của Con Thiên Chúa, Đấng đã dự phần vào cõi hư vô của sự chết.

      
3. Đối với những người đang sống:  

Đối với những ai hiện đang sống (và đối với những ai sinh ra sau nầy), biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki tô dâng hiến ơn cứu độ dưới dấu chỉ Phép Rửa. Thánh Tông Đồ nhấn mạnh rằng không cốt thanh tẩy những vết nhơ thể xác như trong các nghi thức thanh tẩy của lương dân, nhưng nhất là một tâm hồn thanh sạch.

      
Cùng với những bản văn trước đó của thánh Phao-lô, bản văn nầy làm chứng rằng “vào những năm 60, thần học Phép Rửa đã được bày tỏ và khẳng định rất rõ nét”.

      
TIN MỪNG (Mc 1: 12-15).

Đoạn trích Tin Mừng Mác-cô hôm nay gồm có hai phần: phần thứ nhất (1: 12-13) tường thuật công việc chuẩn bị cần thiết của Đức Giê-su cho sứ vụ công khai của Ngài; phần thứ hai (1: 14-15) tường thuật bước khởi đầu sứ vụ công khai của Ngài.

      
I. Công việc chuẩn bị cần thiết cho sứ vụ công khai (1: 12-13):

Tin Mừng Mác-cô thuật lại cuộc thử thách của Đức Giê-su trong hoang địa, dù quá giản dị, nhưng những điều cốt yếu đều được nói ở đây: Thánh Thần thúc đẩy, bốn mươi ngày trong hoang địa, chịu Sa-tan cám dỗ, việc Đức Giê-su chiến thắng sự Dữ được gợi ra một cách giản dị bởi dấu chỉ địa đàng: sống giữa loài dã thú và có các thiên thần hầu hạ Người”.


Trong giai đoạn này của cuộc đời Chúa Giê-su, thiết tưởng phải phân biệt hai khía cạnh: rút vào hoang địa, chịu Sa-tan thử thách.

      
1. Rút vào hoang địa:

Ngay sau khi chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả và trước khi bắt đầu sứ vụ của mình, Đức Giê-su rút vào hoang địa. Ngài chuẩn bị sứ vụ của mình trong chiêm niệm, cầu nguyện và chay tịnh. Trước khi khai mạc công trình cứu độ cho chúng ta, trước khi khởi sự cuộc đời của một nhà giảng thuyết lưu động, khiêm hạ và hoàn toàn tuân phục mọi hướng dẫn của Chúa Cha, Đức Giê-su sống trong sự mật thiết với Cha Ngài và trang bị cho mình sức mạnh Thánh Thần.


Về phương diện nhân loại, Đức Giê-su chắc hẳn đã kinh qua nỗi sợ hãi và xao xuyến, bởi lẽ Ngài đã gánh lấy thân phận yếu hèn của chúng ta. Ngài đặt mình vào trong sự liên đới với những âu lo của chúng ta. Ngài tăng cường lời cầu nguyện của mình bằng chay tịnh như cách thức huấn luyện mình để “làm chủ bản thân mình”, đồng thời như một hành vi “phụ thuộc vào Thiên Chúa”.

      
Vào những giây phút mang tính quyết định, Đức Giê-su nhiều lần rút vào nơi cô tịch để cầu nguyện. Ngài đã cầu nguyện thâu đêm trước khi chọn các Tông Đồ của mình. Ngài đã cầu nguyện lâu giờ trước khi hỏi các môn đệ Ngài là ai và đón nhận lời tuyên xưng đức tin của Phê-rô. Ngài cũng đã thức suốt đêm cầu nguyện trước khi nói về Bánh Ban Sự Sống và công bố rằng bánh mà Ngài ban chính là Mình Ngài làm của ăn thức uống để nuôi sống chúng ta.

      
2. Chịu Sa-tan thử thách:

Nhưng tại sao Đức Giê-su phải chịu Sa-tan thử thách? Xin được đưa ra ba lý do để soi sáng vấn đề nầy.

      
2.1- Chấp nhận thân phận con người:

Việc Đức Giê-su chịu ma quỷ cám dỗ nằm trong sự hợp lý về ơn gọi của Ngài: Ngài đã đồng hóa mình với nhân loại tội lỗi bằng cách chấp nhận phép rửa sám hối bởi Gioan Tẩy Giả. Ngài đã đi cho đến tận cùng của sự đồng hóa nầy khi chấp nhận chịu những cơn cám dỗ như số phận của con cái A-đam và E-và. Qua kinh nghiệm của mình, Ngài chỉ cho chúng ta thấy làm thế nào chiến thắng những chước cám dỗ. Và chính nhờ mẫu gương của Ngài, chúng ta, được ơn phù trợ của Thánh Thần như Ngài, có thể lập lại lời khẩn cầu mà Ngài đã dạy: “Lạy Cha…xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ…”.

      
2.2- Kinh qua những cơn cám dỗ của Dân Chúa:

Nếu Đức Giê-su là một A-đam mới, một A-đam khải hoàn, thì Ngài cũng là một Mô-sê mới. Đức Giê-su đã muốn đòng hóa mình với dân Ngài bằng cách sống lại những cơn cám dỗ của họ trong hoang địa. Ngài đã biết cuộc lưu đày ở Ai-cập khi vừa mới chào đời. Ngài cũng đã kinh qua những chước cám dỗ trong hoang địa. Bốn mươi ngày chay tịnh và cầu nguyện của Ngài nhắc nhớ không chỉ bốn mươi ngày chay tịnh và cầu nguyện của ông Mô-sê trên núi Xi-nai, trước khi đón nhận những lời Giao Ước, nhưng cũng bốn mươi năm truân chuyên mà dân Do thái đã trải qua trong hoang địa.

      
2.3- Khúc dạo đầu cho cuộc chiến thắng tối hậu:

Cuộc đời của Đức Giê-su đầy những dấu chỉ. Cuộc thử thách trong hoang địa là một trong những dấu chỉ lớn lao. Đây là khúc dạo đầu cho một cuộc chiến vĩ đại chống lại quyền lực sự Dữ. Về phía mình, Sa-tan đã tiên cảm một đối thủ đáng gờm; nó sẽ tăng gấp bội nổ lực của mình, sẽ gây ra những phản bội và bỏ rơi, và bên ngoài có vẽ chiến thắng vào ngày thứ sáu Thương Khó của Ngài…

      
II. Bước khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giê-su (1: 14-15):

Tiếp đó, thánh Mác-cô nêu lên việc ông Gioan Tẩy Giả “bị nộp” vào lúc Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ của Ngài ở miền Ga-li-lê.

      
1. Bối cảnh:

Khi nghe tin ông Gioan “bị nộp”, Đức Giê-su cho rằng cần phải cẩn trọng hơn nên Ngài rời bỏ miền Giu-đê trở lại miền Ga-li-lê. Giờ Ngài chưa đến để đón nhận số phận tương tự như ông Gioan.

      
Ấy vậy, vua Hê-rô-đê An-ti-pa, người đã ra lệnh bắt giam Gioan Tẩy Giả, đang cai trị xứ Ga-li-lê. Vì thế, xem ra Đức Giê-su muốn lánh xa Giê-ru-sa-lem, lánh xa trung tâm quyền lực Do thái giáo. Quả thật, Tin Mừng Gioan viết: “Nhóm Pha-ri-sêu nghe tin Đức Giê-su thâu nạp nhiều môn đệ hơn ông Gioan…Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê” (Ga 4: 1-3).

      
2. Sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su.

Vào thời đó, miền Ga-li-lê là “ngã tư quốc tế”, vì các đoàn quân ngoại quốc và các đoàn thương nhân đều phải qua lại ở nơi nầy. Từ lâu miền Ga-li-lê này được mệnh danh là “miền đất của dân ngoại” (Is 8: 28) vì ở đây dân Do thái không chỉ sống chung với dân ngoại nhưng còn là nơi giao tiếp với muôn dân. Vì thế, khi định vị sứ vụ đầu tiên của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, thánh Mác-cô muốn nhấn mạnh rằng sấm ngôn về ơn cứu độ phổ quát của ngôn sứ I-sai-a đã được ứng nghiệm nơi sứ điệp đầu tiên của Đức Giê-su: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9: 1).

Tiếng nói của vị Tiền Hô không còn vang lên nữa. Sứ mạng của ông là dọn đường cho Tin Mừng đã đến hồi kết thúc. Từ đây chính Đấng là hiện thân Tin Mừng xuất đầu lộ diện. Chúng ta ghi nhận rằng Đức Giê-su bắt đầu sự vụ của mình ở Ga-li-lê với lời công bố tương tự như lời công bố của Gioan Tẩy Giả, nhưng có một điểm khác biệt cốt yếu, sứ điệp không còn hướng đến tương lai, nhưng nhấn mạnh hiện tại: “Thời kỳ đã mãn”.