Gợi ý suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 Mùa Chay – năm B (song ngữ)

Kính gửi quý độc giả một vài gợi ý suy niệm song ngữ về bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay – Năm B.

1st Sunday of Lent

Reading I: Genesis 9:8-15 II: 1Peter 3:18-22

Chúa Nhật 1 Mùa Chay

Bài Đọc I: Sáng thế 9:8-15 II: 1Pr 3:18-22

Gospel
Mark 1:12-15

12 At once the Spirit drove him out into the desert,

13 and he remained in the desert for forty days, tempted by Satan. He was among wild beasts, and the angels ministered to him.

14 After John had been arrested, Jesus came to Galilee proclaiming the gospel of God:
15 "This is the time of fulfillment. The kingdom of God is at hand. Repent, and believe in the gospel."

Phúc Âm

Maccô 1:12-15

12 Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.

13 Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.

14 Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giêsu đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.
15 Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."

Interesting Details

· (vv.12-13) Mark discussed the temptation only briefly. For Mark, the "wrestling match" between Jesus and Satan, between good and evil, hardly appears a struggle at all.

· The "forty days" in the gospel should not be taken literally. It was used often, such as with Moses (Exod 24, 18) and Elija (1 Kgs 19, 8), to mean "a considerable time."

· Satan means "adversary," opponent or against the goodness of man, in Hebrew.

· The wild beasts could be:
- Desperation.
- People who do not know God.
- People who are not listening to Jesus.
- People who oppose Jesus.
- People who Jesus would be killed by.
These all mean Jesus was conscious of tremendous threats.

· (v.14) "After John had been arrested" indicates the work of John the Baptizer had been concluded and Jesus' ministry has begun. John the Baptizer being "handed over" refers to Jesus' death and passion. It's occurrence here makes John the Baptizer's fate foreshadow Jesus' fate.

· (v.15) "This is the time of fulfillment" meaning the nature of God's ministry was preaching and accepting the good news. The good news consists of: truth, hope, peace, promise, immortality, and salvation.

· Real repentance is "not to be sorry for the consequences of sin but to hate sin itself."

· "The kingdom of God" referred primarily to God's future display of power and judgment, to the future establishment of God's rule over creation.

· "Believe in the gospel" is to believe in Jesus (the bearer of the message) and His words.

Chi Tiết Hay

· Thánh Mác-cô nói về Đức Giê-su bị cám dỗ một cách ngắn gọn. Đối với thánh Mác-cô, sự "giằng co" giữa Đức Giê-su và Xa-tan, giữa chính và tà, không có gì là quyết liệt.

· Con số "bốn mươi" thường xuyên dùng trong Kinh Thánh, như với ông Môi-sê (Exod 24, 18) và tiên tri Ê-li-a (1 Kgs 19, 18), để diễn tả một khoảng thời gian khá dài.

· Theo tiếng Hy-Lạp, Xa-tan có nghĩa là "Kẻ thù địch," kẻ phản đối hay chống đối lại với chính nghĩa của con người.

· 
Dã thú (c. 1, 13) cũng có thể là
- Sự thất vọng
- Sự cô đơn
- Những người không lắng nghe tiêng Chúa
- Những người chống đối Chúa
- Những người có thể sẽ giết Chúa
Tóm lại, Đức Giêsu biết về những sự dữ Ngài phải đối diện.

· (c.14) "Sau khi ông Gio-an bị nộp" ý chỉ sứ-mạng của ông đã được hoàn tất và sự rao giảng của Đức Giê-su được bắt đầu. Sự việc Gio-an "bị nộp" như báo trước cuộc tử nạn và sự thương khó của Đức Giê-su.

· (c.15) "Thời kỳ đã mãn" có nghiã rằng đặc điểm sứ mạng của Chúa là tiếp nhận và rao giảng tin mừng. Tin Mừng là: Sự thật, hy-vọng, bình an, lời-hứa, sự sống đời đời, và sự cứu rỗi.

· (c.15) "Triều Đại Thiên Chúa" nói lên sự uy quyền của Chúa, sự phán xét của đời sau, và quyền năng của nước Chúa đối với mọi thụ tạo.

· (c.15) "Tin vào Tin Mừng" là tin vào Chúa Kitô (người mang thông điệp từ Chúa Cha) và lời của Người.

One Main Point

Jesus began his ministry with the message that the very power of God is available to those who open themselves to Jesus and to His gospel and His way of loving service.

Một Điểm Chính

Chúa Giê-su bắt đầu cuộc rao giảng của Ngài với lời hứa là uy quyền của Thiên Chúa sẽ đến với những ai mở lòng tiếp nhận Lời Ngài và con đường phục vụ trong yêu thương của Ngài.

Reflections

1. What Gospel, or good news, do I hear in Jesus' message?

2. When we are engrossed in our ministries, do we spend the time to sanctify ourselves?

3. What are the temptations in my daily life, and where do I sin?

4. What do I need to do to "repent" and be free of my sins?

5. In daily temptations, do I recognize aid from the Holy Spirit?

Suy Niệm

1. Những tin mừng nào tôi được nghe từ Chúa Giê-su?

2. Khi tôi dấn thân trong công tác mục vụ và phục vụ, tôi có dành thời giờ để cải hóa chính tôi không?

3. Những sự cám giỗ trong đời sống hằng ngày của tôi là gì? Tôi thường phạm tội gì?

4. Tôi cần làm gì để "ăn năn," "sám hối," và thoát bỏ khỏi tội lỗi?

5. Trong những sự cám giỗ hằng ngày, tôi có nhận biết sự hiện diện và giúp đỡ của Chúa Thánh Thần không?